Tư vấn luật số1 Tư vấn luật số1
0466588555
Tư vấn luật Tư vấn luật
Đường dây nóng Đường dây nóng
0466588555
Hỗ trợ quản trị Hỗ trợ quản trị
Văn phòng Văn phòng
0439780507
lo
Banner trai 01
Banner trai 02
Banner trai 03
Khách online: 90
Lượt khách: 3,515,125
Tìm kiếm tin tức

Tôi phải làm gì khi nghi ngờ cháu bé không phải là con đẻ của mình?

Vợ chồng tôi kết hôn sau nhiều năm mới sinh được một đứa con. Tuy nhiên, do nghi ngờ cháu không phải là con ruột của mình nên tôi muốn từ chối nhận con thì cần những thủ tục gì?
Xin luật sư cho biết, trường hợp đứa trẻ này không phải là con tôi, trong khi vợ chồng tôi kết hôn theo đúng quy định của pháp luật thì vợ tôi có phạm tội gì không?

Minh Tâm (H. Phú Xuyên, Hà Nội)

 Trả lời:

Điều 63 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định:

“Điều 63. Xác định cha, mẹ:

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng. Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định. Việc xác định cha, mẹ cho con được sinh ra theo phương pháp khoa học do Chính phủ quy định”.

Theo đó, Mục 5, Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì khi có người yêu cầu Tòa án xác định người nào đó là con của họ hay không phải là con của họ thì phải có chứng cứ; về nguyên tắc người có yêu cầu phải cung cấp chứng cứ. Trong trường hợp cần thiết thì phải giám định gene. Người có yêu cầu giám định gene phải nộp lệ phí giám định gene.

Như vậy, trường hợp bạn không thừa nhận cháu bé là con của mình thì bạn phải làm đơn gửi đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bạn đang thường trú. Kèm theo đơn bạn phải cung cấp các chứng cứ cho Tòa án để Tòa án xem xét việc từ chối nhận con của bạn là có cơ sở.

Phạm tội là thuật ngữ được sử dụng đối với một cá nhân nào đó thực hiện hành vi vi phạm một trong các điều quy định trong Bộ luật Hình sự. Nếu kết quả xét nghiệm ADN cho thấy cháu bé không phải là con đẻ của bạn, điều này có thể gây tổn thất rất lớn về thể chất, tinh thần cho bạn. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật Việt Nam chưa điều chỉnh trường hợp này ngoại trừ hành vi của người mẹ thoả mãn các dấu hiệu của “Tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng” được quy định tại Điều 147 Bộ Luật Hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung 2009.
(Nguồn: Hoàng Giang)
CÁC TIN KHÁC:
Đưa ảnh chế lên mạng bị xử lý như thế nào? (10/7/2013)
Thủ tục đổi họ, thay tên (9/7/2013)
Say rượu rồi 'lên giường' với bạn cùng lớp (8/7/2013)
Nhãn hiệu hàng hóa chuyển từ sở hữu tập thể sang cá nhân (8/7/2013)
Đời vợ thứ 3, Đảng viên được sinh thêm mấy con? (8/7/2013)
Thời gian nghỉ thai sản theo quy định mới (6/7/2013)
Quy định về hợp đồng cung cấp dịch vụ liên tục (4/7/2013)
Bị tai nạn lao động, doanh nghiệp không bồi thường (2/7/2013)
Hành vi tiêm vắc xin không đủ liều lượng cho trẻ em bị xử lý như thế nào? (2/7/2013)
Làm gì khi chủ đất không chịu sang tên sổ đỏ? (2/7/2013)
Ngoài thuế môn bài, hộ kinh doanh phải nộp thêm loại thuế nào? (1/7/2013)
Sang tên xe qua nhiều đời chủ như thế nào? (1/7/2013)
Quy định về chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (29/6/2013)
Không đăng ký kết hôn, ai được quyền nuôi con? (29/6/2013)
Bảo hiểm từ chối tai nạn xe, khiếu nại ra sao? (28/6/2013)
Tuyên truyền pháp luật cho người nghèo
Hội nghị tuyên truyền pháp luật cho Hội người khuyết tật
Tập huấn Bộ luật Hình sự năm 2015
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 8/2017
Tập huấn Luật trợ giúp pháp lý năm 2017 cho Hội viên
phai
phai 3
toaan
 
© 2011 - 2012 HỘI BẢO TRỢ TƯ PHÁP CHO NGƯỜI NGHÈO TP. HÀ NỘI
Địa chỉ: Tầng 2, số 170 Quán Thánh, quận Ba Đình, Hà Nội.Chịu trách nhiệm nội dung: Hoàng Văn Giang - Tổng Thư Ký Hội - Hotline: 0466588555
Điện thoại: 0439780507- 0466588555 - Fax: 0439780507 - Email: baotrotuphaphn@gmail.com/ tuvanplso1@gmail.com
Thiết kế và lưu trữ bởi TTC Design