 |
|
 |
 |
|
 |
|
| Khách online: 90 |
|
Lượt khách: 3,515,125
|
|
|
 |
|
 |
|
|
|
Tôi phải làm gì khi nghi ngờ cháu bé không phải là con đẻ của mình? |
| Vợ chồng tôi kết hôn sau nhiều năm mới sinh được một đứa con. Tuy nhiên, do nghi ngờ cháu không phải là con ruột của mình nên tôi muốn từ chối nhận con thì cần những thủ tục gì? |
Xin luật sư cho biết, trường hợp đứa trẻ này không phải là con tôi,
trong khi vợ chồng tôi kết hôn theo đúng quy định của pháp luật thì vợ
tôi có phạm tội gì không?
Minh Tâm (H. Phú Xuyên, Hà Nội)
Trả lời:
Điều 63 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định:
“Điều 63. Xác định cha, mẹ:
1.
Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời
kỳ đó là con chung của vợ chồng. Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn
và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng.
2. Trong
trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải
được Tòa án xác định. Việc xác định cha, mẹ cho con được sinh ra theo
phương pháp khoa học do Chính phủ quy định”.
Theo đó, Mục 5, Nghị
quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và
Gia đình năm 2000 thì khi có người yêu cầu Tòa án xác định người nào đó
là con của họ hay không phải là con của họ thì phải có chứng cứ; về
nguyên tắc người có yêu cầu phải cung cấp chứng cứ. Trong trường hợp cần
thiết thì phải giám định gene. Người có yêu cầu giám định gene phải nộp
lệ phí giám định gene.
Như vậy, trường hợp bạn không thừa nhận
cháu bé là con của mình thì bạn phải làm đơn gửi đến Tòa án nhân dân cấp
huyện nơi bạn đang thường trú. Kèm theo đơn bạn phải cung cấp các chứng
cứ cho Tòa án để Tòa án xem xét việc từ chối nhận con của bạn là có cơ
sở.
Phạm tội là thuật ngữ được sử dụng đối với một cá nhân nào đó
thực hiện hành vi vi phạm một trong các điều quy định trong Bộ luật
Hình sự. Nếu kết quả xét nghiệm ADN cho thấy cháu bé không phải là con
đẻ của bạn, điều này có thể gây tổn thất rất lớn về thể chất, tinh thần
cho bạn. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật Việt Nam chưa điều chỉnh trường
hợp này ngoại trừ hành vi của người mẹ thoả mãn các dấu hiệu của “Tội vi
phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng” được quy định tại Điều 147 Bộ
Luật Hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung 2009. |
 |
| (Nguồn: Hoàng Giang) |
|
|
|
|
|
|